Các tác nhân gây ảnh hưởng đến quá trình khử khuẩn, diệt khuẩn

Vị trí và số lượng của tác nhân gây bệnh trên dụng cụ

Tiêu diệt vi khuẩn có trên các dụng cụ phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn bám trên dụng cụ đó và thời gian khử khuẩn. Trong điều kiện chuẩn, đặt thử nghiệm kiểm tra khả năng diệt khuẩn bằng cách hấp tiệt khuẩn người ta thấy rằng:  trong vòng 30 phút có thể tiêu diệt được 10 bào tử B. atrophaeus (dạng Bacillus subtilis). Nhưng trong 3 giờ thì có thể diệt được 100 000 Bacillus atrophaeus. Vì vậy, thật sự rất cần thiết trong việc làm sạch dụng cụ sau khi sử dụng và trước khi thực hiện khử khuẩn và tiệt khuẩn.  Nó cũng là cách để hạn chế số lượng tác nhân gây bệnh, giúp làm ngắn quá trình khử khuẩn và tiệt khuẩn, bảo đảm  khử khuẩn, tiệt khuẩn tối ưu.

Vi khuẩn trên dụng cụ

Cần phải thực hiện công việc làm sạch này một cách tỉ mỉ với tất cả các loại dụng cụ, đặc biệt với những loại dụng cụ có khe, khớp nối, kẽ, nòng và nhiều kênh như dụng cụ nội soi. Khi khử khuẩn những dụng cụ này phải ngâm ngập và cọ rửa, xịt khô theo hướng dẫn của nhà sản xuất trước khi cho vào hấp tiệt khuẩn.

Khả năng bất hoạt các vi khuẩn của hóa chất khử khuẩn

Có nhiều loại tác nhân gây bệnh kháng với chính những hóa chất khử khuẩn và tiệt khuẩn được sản xuất để tiêu diệt chúng. Cơ chế đề kháng của chúng với hóa chất khử khuẩn khác nhau. Nên cần phải chú ý chọn hóa chất không bất hoạt với các vi khuẩn cũng như ít bị đề kháng nhất để đảm bảo chất lượng khử khuẩn, tiệt khuẩn. Khi chọn lựa một hóa chất để thực hiện việc khử khuẩn, mỗi cơ sở KBCB cần phải xem xét cả chu trình, thời gian tiếp xúc của hóa chất để có thể tiêu diệt được hết các tác nhân gây bệnh.

Nồng độ và hiệu quả của hóa chất khử khuẩn

dung-khan-khu-khuan-be-mat

Trong điều kiện chuẩn để thực hiện việc khử khuẩn, các hóa chất khử khuẩn muốn tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh hiệu quả thì phải tính đến thời gian vi khuẩn tiếp xúc với hóa chất. Muốn tiêu diệt được 10^4 M. tuberculosis trong vòng 5 phút, cần phải dùng đến cồn isopropyl 70%. Trong khi đó, sử dụng phenolic sẽ tốn đến 2- 3 giờ tiếp xúc.

Những tác nhân vật lý và hóa học của hóa chất khử khuẩn

Một số tính chất vật lý và hóa học của hóa chất khử khuẩn sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình khử khuẩn, tiệt khuẩn như: pH, nhiệt độ, độ ẩm và độ cứng của nước. Tác dụng của hóa chất tăng cao khi nhiệt độ tăng nhưng nó cũng có thể làm hỏng dụng cụ và làm thay đổi khả năng diệt khuẩn.

Đối với một số hóa chất như glutaraldehyde, quaternary ammonium, khi tăng độ pH có thể sẽ làm tăng khả năng diệt khuẩn. Trong khi đó, một số hóa chất như phenols, hypochlorites, iodine lại giảm khả năng diệt khuẩn nếu tăng độ pH.

Một yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khử khuẩn đó là độ ẩm. Nó ảnh hưởng đến tác dụng khử khuẩn, tiệt khuẩn của các loại hóa chất dạng khí như ETO (Ethylen oxide), chlorine dioxide, formaldehyde.

Về yếu tố độ cứng của nước, nếu nó cao (quyết định bởi nồng độ của một số cation kim loại như canxi, magie) thì sẽ làm giảm khả năng diệt khuẩn và có thể gây lắng đọng khiến các dụng cụ kim loại bị hỏng.

Chất hữu cơ và vô cơ

Vệ sinh bề mặt để khử khuẩn

Những chất hữu cơ từ máu, huyết thanh, mủ, phân hoặc từ những chất bôi trơn có thể gây ảnh hưởng đến khả năng diệt khuẩn của hóa chất khử khuẩn theo 2 cách đó là: giảm nồng độ hóa chất, giảm khả năng diệt khuẩn, giúp vi khuẩn tồn tại sau quá trình khử khuẩn, tiệt khuẩn. Vi khuẩn sẽ tái hoạt động khi những dụng cụ đó được đưa vào cơ thể. Do đó việc làm sạch loại bỏ hoàn toàn chất hữu cơ, vô cơ có trên bề mặt, khe, khớp và trong lòng dụng cụ là việc làm hết sức cần thiết, nó quyết định rất nhiều tới chất lượng khử khuẩn, tiệt khuẩn các dụng cụ trong bệnh viện.

Thời gian tiếp xúc với hóa chất

Khi được khử khuẩn, tiệt khuẩn các dụng cụ, chúng ta phải tuyệt đối tuân thủ thời gian tiếp xúc tối thiểu với hóa chất. Thường các nhà sản xuất sẽ đưa ra quy định rất rõ về thời gian tiếp xúc này và ghi cụ thể trong hướng dẫn sử dụng.

Các màng sinh học xung quanh vi khuẩn ( iofilm)

Các vi sinh vật có khả năng tiết ra những chất tạo thành màng sinh học, bao xung quanh vi khuẩn và giúp nó dính với bề mặt dụng cụ. Màng sinh học này cũng có tác dụng bảo vệ nó khỏi tác dụng của hóa chất khử khuẩn, tiệt khuẩn và gây ra khó khăn trong việc làm sạch dụng cụ, nhất là với dụng cụ dạng ống.

Những vi sinh vật có khả năng tạo màng sinh học thì có sức đề kháng cao với hóa chất khử khuẩn, tiệt khuẩn và mạnh gấp 1000 lần so với vi sinh vật không có khả năng tạo ra màng sinh học. Chính vì vậy, khi chọn hóa chất khử khuẩn cần phải lưu ý đến đặc điểm này của một loại vi khuẩn như Staphylococcus, các trực khuẩn gram âm, vi khuẩn có trong dụng cụ như: máy tạo nhịp, nội soi, mắt kính, ống thông mạch máu, ống thông nước tiểu và hệ thống chạy thận nhân tạo. Hiện nay đã có một số loại enzyme và chất tẩy rửa có khả năng hòa tan, hạn chế sự cấu thành những chất sinh học này.

>>> Xem thêm: 7 cách vệ sinh, khử khuẩn tại nhà phòng dịch COVID-19

0/5 (0 Reviews)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *